Tin mới: * Phân bón chứa chất độc - Sự thật đang được che giấu? * Trồng măng tây thu nhập cao * TP.HCM: Bể bờ bao, cá tràn ao * Luân canh tôm - lúa ở ĐBSCL * Nuôi tôm công nghiệp bằng năng lượng mặt trời
Chăn Nuôi
BIO-BOSS -- Bảo vệ từ bên trong.
GAAN Zym - Tăng cường hấp thu dưỡng chất - Phòng ngừa bệng đường ruột.
Trồng Trọt
Phân Vi Lượng Sinh Học Max M
Men Cabi - Trả màu về cho đất
Sinh Vật Cảnh
Penegertic - Đặc trị gan thận, chướng hơi
Bio GUARD - Nhân đôi kháng thể, bảo vệ liên tục
 
Trồng Trọt
Quản lý sâu bệnh hại cà phê theo hướng sản xuất bền vững

QUẢN LÝ SÂU BỆNH HẠI CÀ PHÊ THEO HƯỚNG SẢN XUẤT BỀN VỮNG

1. MỞ ĐẦU

Trong những năm gần đây ngành sản xuất cà phê thường xuyên phải đối đầu với sự bùng nổ của sâu bệnh mà cho đến nay vẫn còn để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng. Dịch rệp sáp hại rễ năm 1993, hiện tượng vàng lá thối rễ xuất hiện từ năm 1995 tàn phá hàng nghìn ha cà phê, đến năm 1996 dịch rệp sáp hại quả lại xuất hiện và trở thành loài dịch hại chính trên cây cà phê hiện nay. Bên cạnh đó cà phê vối (giống cà phê chiếm trên 95% diện tích trồng ở Tây Nguyên) vốn được xem là giống có khả năng chống chịu được nhiều loại sâu bệnh thì hiện nay đang bị đe dọa bởi hàng loạt các đối tượng dịch hại mà trước đây không hề gây hại trên cà phê vối: Bệnh gỷ sắt gây hại trên 50% số cây trên đồng ruộng, bệnh vàng lá thối rễ mà nguyên nhân chủ yếu là tuyến trùng Pratylenchus coffeae, đây là loài tuyến trùng thường gây hại trên cà phê chè ở nhiều nước trồng cà phê trên thế giới.  

Sự xuất hiện và gây hại nghiêm trọng trên diện rộng của các loại sâu bệnh trên cà phê có nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân chủ yếu là sự phát triển nhanh diện tích trồng cà phê trên qui mô lớn kết hợp với sự mất cân đối trong thâm canh tạo nguồn thức ăn dồi dào cho sâu bệnh. Do sự bùng nổ sâu bệnh, nông dân cũng như các cơ sở sản xuất đã sử dụng một khối lượng lớn thuốc hóa học trong khi chưa có những hiểu biết thấu đáo về các đối tượng phòng trừ cũng như các loại thuốc được sử dụng gây nhiều lãng phí và ô nhiễm môi trường. Vì thế quản lý dịch hại tổng hợp là một chương trình cần thiết đối với những người trồng cà phê hiện nay để bảo đảm một năng suất bền vững mà vẫn bảo vệ được môi trường sống.

2. CÁC LOẠI SÂU BỆNH HẠI CHỦ YẾU TRÊN CÂY CÀ PHÊ

2.1. Bệnh gỷ sắt

Bệnh xuất hiện ở mặt dưới lá với những chấm nhỏ, màu vàng lợt như những giọt dầu. Sau đó ở giữa vết bệnh xuất hiện lớp bột màu vàng cam, đó là bào tử của nấm gỷ sắt. Vết bệnh chuyển dần sang màu trắng từ trung tâm ra ngoài và cuối cùng là những vết cháy màu nâu đen. Các vết cháy có thể kiên kết với nhau dẫn dến việc cháy toàn bộ lá và lá rụng. Nếu bệnh nặng cây có thể rụng hết lá, khô cành, sản lượng kém và chết.      

Bệnh gỷ sắt cà phê do nấm Hemileia vastatrix gây ra. Đây là loại nấm chuyên tính chỉ ký sinh trên cà phê. Bào tử nấm xâm nhập vào lá qua các khí khổng ở mặt dưới lá. Nhiệt độ thích hợp cho bệnh phát triển là 150C - 280C, thích hợp nhất là 220C. Khi bào tử nảy mầm đòi hỏi phải được tiếp xúc với nước. Tại Tây Nguyên, mưa là yếu tố quyết định sự phát sinh phát triển của bệnh rỉ sắt trên cà phê. Thời gian bắt đầu mùa mưa quyết định sự phát sinh sớm hay muộn của bệnh. Bào tử nấm lây lan nhờ gió, mưa, con người. Nấm bệnh có rất nhiều chủng sinh lý, mỗi giống cà phê có phản ứng khác nhau đối với từng chủng sinh lý.

 

2.2. Thối nứt thân

            Bệnh xuất hiện trên vườn kiến thiết cơ bản lẫn kinh doanh, trên đoạn thân đã hóa gỗ. Bệnh làm nứt và thối đen lớp vỏ ngoài của thân cây, nếu bị nặng thì lớp gỗ phía trong bị khô dẫn đến hiện tượng tắc mạch, cây thiếu nước nên lá héo và khô từ đầu ngọn xuống. Vết bệnh có thể xuất hiện ở bất cứ vị trí nào của thân cây nhưng thường ở đoạn giữa thân và gần gốc cây. 

            Bệnh do nấm Fusariumspp. gây hại. Bệnh phát triển và lây lan nhanh, thường xuât hiện ở những vườn không thông thoáng, ẩm thấp hay vào những năm mưa nhiều, ẩm độ không khí cao.

2.3. Nấm hồng

Đầu tiên trên quả hay cành cà phê xuất hiện những chấm rất nhỏ màu trắng giống như bụi phấn. Sau đó lớp phấn này chuyển sang màu hồng. Bệnh thường xuất hiện ở mặt dưới cành và cuống quả làm cành bị chết khô, quả thì héo và rụng non. Trên cà phê vối kinh doanh bệnh thường gây hại có tính cách cục bộ từng cây, làm chết từng cành, nếu nặng có thể chết cả 1/2 tán cây.

Bệnh do nấm Corticium salmonicolor gây hại. Bệnh thích hợp với điều kiện ẩm độ cao nhưng lại có nhiều ánh sáng. Do đó trên cây, bệnh thường xuất hiện ở tầng giữa và tầng trên, ít thấy ở tầng dưới. Bệnh phát triển rất nhanh trên cây, tốc độ làm chết cành rất nhanh, nhưng lây lan từ cây này sang cây khác thì chậm. Tại Tây Nguyên bệnh thường phát sinh từ tháng 6, 7; phát triển mạnh từ tháng 7 đến tháng 9, cao điểm vào tháng 9. Năm nào mưa nhiều, ẩm độ không khí cao thì bệnh nặng hơn.

2.4. Tuyến trùng

Tuyến trùng gây hại trên cà phê ở tất cả các loại tuổi, cả trong giai đoạn vườn ươm. Trên đồng ruộng, triệu chứng đầu tiên thường là 1 mảng hay 1vùng cây sinh trưởng kém trong khi các cây chung quanh sinh trưởng tốt. Trên cây triệu chứng do tuyến trùng gây ra có thể được chia làm 2 nhóm: trên mặt đất và dưới đất. Triệu chứng trên mặt đất thể hiện rõ nhất là giảm sinh trưởng, thiếu dinh dưỡng (vàng lá), héo khi thời tiết nóng hay khô, giảm năng suất và chất lượng. Triệu chứng ở dưới mặt đất là thối rễ cọc trên cà phê kiến thiết cơ bản và thối rễ tơ trên cà phê kinh doanh.

Nguyên nhân chủ yếu của bệnh là do tuyến  trùng Pratylenchus coffeae. Trên cà phê kiến thiết cơ bản, bệnh xuất hiện trên các vườn trồng lại trên đất các vườn cà phê già cỗi và các vườn kinh doanh đã bị tuyến trùng gây hại. Đối với các vườn cà phê kinh doanh, bệnh thường xuất hiện ở những vườn cho năng suất cao trong một thời gian dài nhưng không được bổ sung phân hữu cơ cũng như không bón phân hóa học cân đối khiến cây kiệt sức và giảm sức đề kháng. Ngoài ra còn một số tuyến trùng khác như Meloidogyne sp., Radopholus arabocoffeae; các loài này xuất hiện không phổ biến như Pratylenchus coffeae. Radopholus arabocoffeae là loài tuyến trùng gây hại trên cà phê chè Catimor tại Tây Nguyên mới được phát hiện và đặt tên (Trịnh Quang Pháp và cộng sự, 2004).

Tuyến trùng gây hại cây chủ yếu sống trong đất. Trứng của tuyến trùng có thể tồn tại rất lâu trong đất và trên các tàn dư thực vật khi không có cây ký chủ hay khi gặp điều kiện không thuận lợi. Vì thế luân canh, cày rà rễ là các biện pháp làm giảm số lượng tuyến trùng trên đồng ruộng sau khi nhổ bỏ các vườn đã bị bệnh.. Tuyến trùng có thể di chuyển theo nước nên biện pháp tưới tràn giúp cho bệnh lây lan nhanh. Việc xới xáo, vét bồn trong các vườn đã bị bệnh cũng tạo điều kiện cho bệnh lây lan và phát triển vì tạo vết thương cho rễ.

2.5. Các loài rệp

Phổ biến trên cà phê tại Tây nguyên hiện nay là:

            - Rệp vẩy xanh ( Coccus viridis)

- Rệp vẩy nâu ( Saissetia hemisphoerica)

            - Rệp sáp hại quả (Planococcus sp.)

            - Rệp sáp hại rễ (Planococcus sp.)

Tác hại chủ yếu của các loại rệp này là chích hút các bộ phận khí sinh nhất là các phần non: lá non, chồi non, quả non làm các bộ phận này phát triển kém, cành lá vàng, quả rụng. Rệp sáp hại rễ chích hút phần cổ rễ và rễ tạo ra nhiều vết thương trên rễ giúp các loài nấm gây hại dễ dàng xâm nhập gây hiện tượng thối rễ. Các loài rệp sáp được bao bọc bằng một lớp sáp, khi bị rệp nặng lớp sáp này có thể bao phủ cả thân, cành, quả cà phê làm các bộ phận này không thể phát triển được. Rệp sáp hại rễ kết hợp với nấm Polyporus sp. tạo ra một bộ phận gọi là măng sông bao quanh rễ cây, trong các măng sông này rệp sinh sống và chích hút rễ cây làm rễ cây không phát triển. Ngoài ra lớp sáp này còn ngăn cản không cho thuốc tiếp xúc với rệp gây nhiều khó khăn trong việc phun thuốc phòng trừ.

Đa số các loại rệp này thường tiết ra dịch là môi trường thuận lợi cho nấm muội đen phát triển bao phủ trên mặt lá, cành và cả chùm quả góp phần hạn chế sự phát triển của các cơ quan này. Dịch này cũng là thức ăn của kiến, do đó nơi nào có rệp là có kiến, mặt khác kiến còn là nguồn lây lan của rệp. Đa số các loại rệp khi trưởng thành đều không di chuyển được, rệp con di chuyển được nhưng cũng không xa. Kiến sẽ tha rệp từ nơi này sang nơi khác, kiến còn bảo vệ rệp khỏi sự tấn công của các thiên địch, không có kiến rệp sẽ không phát triển được.

            Các loại rệp vảy xanh và vảy nâu thường xuất hiện quanh năm.

Rệp sáp hại quả thường xuất hiện từ sau khi ra hoa cho đến hết thu hoạch. Rệp sáp hại quả gây hại nặng trong các tháng mùa khô và đầu mùa mưa, đặc biệt là thời gian có các giai đoạn mưa nắng xen kẻ nhau. Số lượng rệp giảm hẳn giữa mùa mưa do mưa nhiều, ẩm độ không khí quá cao. Sau khi thu hoạch quả, rệp chuyển sang sống trong các cụm hoa chưa nở ở đầu cành và đẻ trứng ở đó, các trứng này sẽ nở thành rệp con sau khi cây được tưới nước và gây hại ngay từ giai đoạn đậu quả non.

2.6. Mọt đục quả

Mọt thường đục 1 lỗ  tròn nhỏ cạnh núm hay giữa núm quả để chui vào trong nhân, đục phôi nhũ tạo thành các rãnh nhỏ để đẻ trứng. Sâu non ăn phôi nhũ hạt làm giảm chất lượng cà phê nhân. Mọt thích sống trong các quả chín nhất là các quả khô trên cây và rụng dưới đất. Sau khi thu hoạch mọt sẽ sống trong các quả khô trên cây và dưới đất, sau đó chuyển sang các quả xanh già, quả chín đầu vụ.

            Mọt gây hại trên cả ba giống cà phê: chè, vối, mít. Ngoài ra còn gặp mọt trên một số cây như: Cốt khí, muồng hoa vàng, đậu ma, keo dậu. Tuy nhiên người ta chưa tìm thấy mọt đẻ trên các ký chủ này, chỉ có thể xem là ký chủ tạm thời.

2.7. Mọt đục cành

Mọt đục một lỗ nhỏ bên dưới các cành tơ hay bên hông các chồi vượt làm thành một tổ rỗng làm cành hay chồi khô héo và chết.

Mọt xuất hiện chủ yếu trong các tháng mùa khô, bắt đầu phá hại từ tháng 9, 10, đạt đỉnh cao vào tháng 12, 1.   

Mọt còn sống trên cây bơ, ca cao, xoài, cọ dầu... Tại Buôn Ma Thuột muồng hoa vàng hạt to, đậu săng là các cây ký chủ phụ của mọt đục cành.

3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH ĐÃ ĐƯỢC THỰC HIỆN CÓ HIỆU QUẢ TRÊN CÂY CÀ PHÊ

            Trong những năm qua, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây nguyên (Viện) đã đạt được một số kết quả trong nghiên cứu phòng trừ các loại sâu bệnh hại cà phê có thể sử dụng có hiệu quả trong quản lý dịch hại tổng hợp trên cây cà phê .

3.1. Giống kháng bệnh

            Là biện pháp được sử dụng chủ yếu trong phòng trừ bệnh gỷ sắt. Trên cà phê chè (Coffea arabica), Viện đã du nhập,chọn lọc và lai tạo được một số giống cà phê  kháng bệnh gỷ sắt (Catimor và 10 con lai F1); giống Catimor hiện nay đang được trồng phổ biến ở các tỉnh phía Bắc và một số tỉnh Tây nguyên, các con lai F1 (TN1 - TN10) đang được khu vực hóa tại các vùng trồng chính trong nước.  Trên cà phê vối, đã chọn lọc được một số dòng vô tính có năng suất cao và chống đươc bệnh gỷ sắt. Bằng phương pháp ghép chồi các dòng vô tính này lên gốc cây cà phê bị bệnh gỷ sắt có thể loại dần các cây bệnh trên dồng ruộng.        

3.2. Vệ sinh đồng ruộng

            Đối với một số loài sâu bệnh có khả năng tồn tại trong các tàn dư thực vật còn sót lại trên vườn cây như mọt đục quả, mọt đục cành, rệp sáp hại quả... biện pháp vệ sinh đồng ruộng có thể hạn chế được sự lây lan của sâu bệnh từ năm này sang năm khác. Biện pháp này đã có hiệu quả cao trong việc phòng trừ mọt đục quả vì hầu hết các quả khô còn sót lại sau khi thu hoạch là nguồn mọt cho năm sau. Vì thế việc thu gom các quả khô còn sót lại trên cây và dưới đất sau khi thu hoạch là biện pháp phòng trừ có hiệu quả cao đối với đối tượng này. Đối với mọt đục cành, việc phát hiện sớm các cành bệnh và cắt đốt là biện pháp tích cực nhất để hạn chế sự phát triển của loại sâu này. Cắt đốt các cành bị rệp sáp gây hại nặng trước khi xử lý thuốc bảo vệ thực vật góp phần làm giảm mật số rệp trên đồng ruộng và nâng cao hiệu quả sử dụng thuốc. Phát hiện sớm và loại bỏ các cây bị bệnh hại rễ là công việc cần thiết để hạn chế sự lây lan của các bệnh này trên đồng ruộng.

3.3. Biện pháp canh tác

            Đây là biện pháp cơ bản để ngăn chặn sự phát triển và lây lan của nhiều loại sâu bệnh trên cà phê. Thu hái kịp thời những quả chín sớm cũng góp phần hạn chế sự phát triển của mọt đục quả. Việc rong tỉa cây che bóng, tạo hình thông thoáng cho cà phê có thể hạn chế sự phát triển của một số loại bệnh như nấm hồng, thối nứt thân. Cày bừa, rà rễ, luân canh sau khi nhổ bỏ các vườn cà phê già cỗi hoặc các vườn bị bệnh vàng lá, thối rế có thể làm giảm tỷ lệ cây chết do nấm và tuyến trùng khi trồng lại cà phê trên các diện tích này. Hạn chế xới xáo, làm bồn trong các vườn có triệu chứng vàng lá, thối rễ tơ để tránh sự lây lan của bệnh. Không trồng xen các cây ký chủ phụ của rệp sáp, tuyến trùng như đậu phụng, đậu xanh ... Bổ sung chất hữu cơ cho đất có thể hạn chế được sự phát triển của tuyến trùng. Bón phân vô cơ hợp lý và cân đối có thể giảm được bệnh khô cành khô quả, bệnh đốm mắt cua,

3.4. Biện pháp hóa học

            Không thể phủ nhận vai trò của biện pháp hóa học trong việc bảo vệ mùa màng nhờ tác dụng nhanh với hiệu lực cao đối với các loại dịch hại. Trên cơ sở những nghiên cứu về đặc điểm sinh học, qui luật phát sinh phát triển của các loại dịch hại Viện đã đề xuất những qui trình phun thuốc hợp lý cho từng loại đối tượng gây hại. Khác với các loại cây ngắn ngày, cà phê là cây lâu năm tồn tại trên đồng ruộng trong một thời gian lâu và đây cũng là một khó khăn trong công tác phòng trừ sâu bệnh vì lúc nào ký sinh cũng có ký chủ. Tuy nhiên cũng chính vì vậy mà trong năm bao giờ cũng có những thời kỳ bất lợi cho sự phát triển của sâu bệnh. Nắm được những qui luật này thì sự phòng trừ bằng thuốc bảo vệ thực vật sẽ có hiệu quả cao và ít để lại những hậu quả nghiêm trọng.

            Trong hệ thống các biện pháp trên cần coi trọng biện pháp vệ sinh đồng ruộng và canh tác vì giải quyết các tác hại của sâu bệnh không chỉ gói gọn trong việc loại trừ các loài gây hại. Không nên cố gắng tiêu diệt bằng hết các loài gây hại trên đồng ruộng,  như thế sẽ phá vỡ mối cân bằng sinh học trên đồng ruộng. Hiện nay, thực hành nông nghiệp tốt (GAP) là tiêu chuẩn hàng đầu để tiến tới sản xuất cà phê bền vững.



TS. Trần Kim Loang


In trang    Gửi bạn bè

Bài viết khác:

 Phun thuốc bảo vệ thực vật trên cây Điều [26-06-2008 - 20 : 01]
 Ảnh hưởng của gibberellin đến năng suất điều tại huyện Đồng Phú và Phước Long, tỉnh Bình Phước [26-06-2008 - 19 : 45]
 Tổng quan về bệnh virus trên lúa vụ Hè Thu năm 2006 [26-06-2008 - 18 : 14]
 Kiểm sóat lúa cỏ và cỏ dại bằng hóa chất thuộc nhóm imidazolinone trên ruộng lúa trồng giống kháng thuốc diệt cỏ [26-06-2008 - 14 : 52]
 Các giải pháp quản lý bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá ở ĐBSCL [26-06-2008 - 14 : 46]
 Biện pháp sử dụng bẫy đèn để xác định lịch gieo sạ đồng loạt [26-06-2008 - 14 : 39]
[Quay về]
Tin mới liên quan :
Vàng và rụng lá cà phê: Nguyên nhân, giải... [14/6/2010]
Chăm sóc vườn hồ tiêu trong mùa mưa... [11/9/2009]
Kỹ thuật nhân giống cây Điều ghép... [11/9/2009]
Làm thế nào để tăng độ phì nhiêu của... [11/9/2009]
Đắk Lắk: Từng bước nâng cao chất lượng cà... [10/9/2009]