Tình hình chung
Cà phê là một trong những loại cây trồng chủ lực của tỉnh Lâm Đồng. Thu nhập từ sản xuất cà phê chiếm tỷ trọng cao trong GDP của ngành nông nghiệp địa phương. Diện tích trồng cà phê của tỉnh năm2007 khoảng 121.666 ha, với sản lượng hàng năm đạt trên 240.000 tấn, đứng thứ 2 trong cả nước (sau tỉnh Đắc Lắc).
Những năm trước đây, trên cây cà phê chỉ xuất hiện một số dịch hại phổ biến như: mọt đục cành, rệp sáp, rệp các loại, sâu đục thân, nấm hồng, rỉ sắt, khô cành khô trái, nấm và tuyến trùng gây hại trong đất. Trong những năm gần đây, hiện tượng ve sầu gây hại trên cây cà phê đã xuất hiện và ngày càng gây hại trên diện rộng.

Ve sầu được phát hiện ở Đắc Lắc và Đắc Nông từ năm 2004. Tháng 6/2006, trên địa bàn huyện Di Linh đã xuất hiện ấu trùng ve sầu gây hại trên diện tích 500 ha cà phê (chủ yếu cà phê kinh doanh trồng trên 10 năm). Đến tháng 10/2006, ve sầu đã gây hại ở hầu hết các vùng trồng cà phê Robusta của tỉnh. Riêng tại 2 huyện Di Linh và Bảo Lâm đã có 9.291 ha nhiễm với mật độ từ 20-60 con/gốc.
Tháng 8/2007, ve sầu xuất hiện và gây hại tại Lâm Hà, Đức Trọng và Bảo Lộc, nâng tổng diện tích nhiễm ve sầu toàn tỉnh là 21.437 ha, gồm: Di Linh (9.191 ha), Bảo Lâm (5.786 ha), Đức Trọng (4.360 ha), Lâm Hà (1.700 ha), Bảo Lộc (400 ha). Diện tích nhiễm nặng tăng nhiều nhất vào tháng 4 trên tổng diện tích 16.601 ha bị hại, trong đó có 4.564 ha bị hại nặng. Toàn tỉnh có 210 ha cà phê bị vàng lá, chủ yếu tại Di Linh (160 ha), tập trung ở các xã Gia Hiệp, Hòa Bắc, Gung Ré, Tân Thượng, nông trường Đinh Trang Hòa và thị trấn Di Linh; Bảo Lâm (khoảng 50 ha). Các huyện khác như Đức Trọng, Lâm Hà, Đam Rông và thị xã Bảo Lộc tình hình gây hại của bệnh vàng lá còn rải rác, ở mức độ gây hại nhẹ.
Cho đến nay, toàn tỉnh có 20.050 ha cà phê bị ấu trùng ve sầu gây hại. Trong đó, 2.323 ha bị hại nặng với mật độ trung bình 24,5 con/gốc, có nơi mật độ cao khoảng 280 con/gốc… Nhiều vườn cà phê bị vàng lá, chủ yếu ở Di Linh (Liên Đầm, Đinh Trang Thượng, Tân Thượng), Bảo Lâm (Lộc An, Lộc Ngãi), Đức Trọng (Ninh Gia, Bình Thạnh) và Lâm Hà (Hoài Đức, Phúc Thọ). Khả năng ấu trùng ve sầu tiếp tục gây hại nặng ở các vùng chưa nhiễm nặng năm 2007 là khá cao. (Theo số liệu Chi cục Bảo vệ thực vật Lâm Đồng).
Triệu chứng
Ve sầu gây hại cả trên cành cây cà phê lẫn dưới mặt đất. Chúng trưởng thành và đẻ trứng trên các cành nhỏ làm suy kiệt hoặc chết cành. Sâu non chích hút làm bộ rễ chậm phát triển, cây còi cọc.
Cây cằn cọc, lá úa vàng, có biểu hiện héo, cành dinh dưỡng và chồi vượt kém phát triển, quả non phát triển chậm. Ở một số cây bị hại nặng, quả non rụng bất thường ngay cả khi cây đã được bón phân, chăm sóc đầy đủ. Rễ phần trên mặt và ở độ sâu 15 cm phát triển kém. Một số rễ bị đen, khô từ đầu rễ, cây không ra được rễ non, số lượng rễ tơ giảm rõ rệt.
Nguyên nhân xuất hiện và gây hại
Nguyên nhân xuất hiện dịch ve sầu: Do bàcon nông dân, sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật không cân đối, làm mất cân bằng hệ sinh thái trong vườn cà phê như: sử dụng thuốc làm giảm một số loài thiên địch, kiến vàng mà kiến vàng có khả năng kìm hãm trứng ve sầu...
Nguyên nhân gây hại:
Ve sầu thuộc họ Cicadidae. Bộ cánh đều Homoptera. Vòng đời ve sầu có 3 pha: pha trưởng thành, trứng và sâu non. Trong 3 pha thì pha sâu non và trưởng thành gây hại. Tuy nhiên, mức độ gây hại ở pha trưởng thành không đáng kể. Pha sâu non gây hại gián tiếp và trực tiếp. Sau khi rơi xuống đất, chúng đào bới, chui xuống đất và hút chất dinh dưỡng của bộ rễ cà phê (chủ yếu là bộ rễ tơ) làm giảm khả năng cung cấp dinh dưỡng, nước cho cây. Ngoài ra, trong quá trình gây hại đã để lại vết thương tạo điều kiện thuận lợi cho các loài nấm, vi khuẩn và tuyến trùng tấn công vào gây tắc mạch dẫn của rê,̃ làm rễ không có khả năng hút được dinh dưỡng, nước gây hiện tượng vàng úa cây cà phê.
Trong năm, giai đoạn đầu tháng 4 bắt đầu xuất hiện trưởng thành, tháng 6-8 pha trưởng thành xuất hiện rộ. Sau khi trưởng thành, con đực và cái giao phối với nhau, trứng được đẻ ở các vị trí cành non, phía mặt dưới. Sau đó, trứng nở ra, sâu non rơi xuống đất, hoàn thành chu kỳ sống trong đất ở bộ phận rễ cây càphê.
Hiện nay, Chi cục Bảo vệ thực vật Lâm Đồng đã gửi mẫu đến các cơ quan chuyên môn và định danh được 2 loài ve sầu gây hại cà phê tại Lâm Đồng là Purana guttularis Walker và Pomponia sp. Vòng đời của loài Purana guttularis Walker vàPomponia sp chưa xác định được. Ngoài ra, một số loài ve sầu khác hiện tại chưa định danh.
Năm 2007, Chi cục Bảo vệ thực vật Lâm Đồng đã thu thập 20 mẫu đất, rễ ở các cây cà phê bị vàng lá do ấu trùng ve sầu gây hại và cây cà phê không có ấu trùng ve sầu gây hại để phân tích, giám định các tác nhân nấm, vi khuẩn, tuyến trùng ký sinh rễ. Kết quả cho thấy:
Ấu trùng ve sầu gây hại làm tăng một số quần thể tuyến trùng ký sinh rễ cây cà phê. Có 3 loài tuyến trùng ký sinh rễ cây cà phê: Meloidogyne sp, Aphelenchoides spTylenchus sp. Trong đó, tuyến trùng Aphelenchoides sp có vai trò đáng kể trong việc gây hại rễ cà phê liên quan đến hiện tượng vàng lá cà phê. Mật độ và loài tuyến trùng có thể xuất hiện khác nhau ở các mẫu đất hoặc rễ đã phân tích.
Hiện tượng cây cà phê bị vàng lá do nhiều tác nhân riêng rẽ hoặc phối hợp với ấu trùng ve sầu, tuyến trùng Aphelenchoides sp ký sinh, nấm Fusarium sp. Ấu trùng ve sầu hại rễ làm tăng rõ rệt mật độ các loài tuyến trùng ký sinh rễ cây cà phê.
Mối tương quan giữa triệu chứng vàng lá và mật độ ve sầu tuy không rõ nhưng sự gây hại của ấu trùng ve sầu có ảnh hưởng đến bộ rễ cây cà phê là rõrệt.
Theo phân cấp tạm thời của Chi cục Bảo vệ thực vật Lâm Đồng để tiến hành điều tra dự tính, dự báo ấu trùng ve sầu như sau: nhiễm nhẹ từ 40-80 con/gốc, trung bình từ 80-160 con/gốc, nhiễm nặng >160 con/gốc.
Biện pháp phòng chống
Dựa vào tập tính hoạt động của ve sầu: bắt đầu xuất hiện ve sầu trưởng thành đầu tháng 4 và xuất hiện rộ vào tháng 6-8 hàng năm. Do vậy, cần can thiệp vào giai đoạn tháng 4-6 để hạn chế trưởng thành và hạn chế sâu non ở thời điểm tháng 8-11 hàng năm.
Biện pháp canh tác: Tạo tán hợp lý, tỉa cành thường xuyên, cào bồn sau thu hoạch có thể dùng tăm xe máy chọc xuống các lỗ để giết ấu trùng (áp dụng trên các vườn thổ cư, tận dụng lao động phụ). Bón phân cân đối và hợp lý theo đúng qui trình, tăng cường sử dụng phân hữu cơ, phân chuồng.
Các biện pháp sinh học: Bảo vệ các loài thiên địch có khả năng hạn chế sự gây hại của ấu trùng ve sầu như kiến, ong, nhện… bằng cách sử dụng các loại thuốc có tính xua đuổi kiến vào thời kỳ thu hoạch, không nên sử dụng các loại thuốc có độ độc cao để tiêu diệt kiến. Sử dụng thuốc nấm Metarhirium anisopliae, Metament 90 DP với liều lượng 10 gr thuốc + 5-10 lít nước/gốc tùy theo tuổi cây cà phê, sử dụng bẫy đèn để tiêu diệt.
Làm tăng khả năng phát triển của cây, kích thích và phục hồi bộ rễ: Sử dụng chất kích thích ra rễ RIC 10 WP tưới xuống gốc: 20-30 kg/ha, 3.000-5.000 lít nước/ha.
Sử dụng biện pháp hóa học: Khi mật độ ấu trùng > 40 con/gốc.
+ Sử dụng các loại thuốc ít độc: Dầu khoáng SK Enspray 99 EC: 40 ml/gốc, Vimatrine 0,6 SL: 25 ml/gốc.
+ Sử dụng các loại thuốc với liều lượng như sau khi mật độ cao > 80 con/gốc:
Vibasu 10H: 10-20 gr/gốc; Karphos 2D: 20-40 gr/gốc; Sago super 3G: 20-30 gr/gốc; Basudin 10H: 20-30 gr/gốc; Vibam 5H: 30-40 gr/gốc; Visa 5H: 30-40 gr/gốc; Visumit 50 ND nồng độ 0,2%; Supracide 40 EC nồng độ 0,2 %. Lượng thuốc nước tưới xuống gốc từ 5-10 lít nước/gốc tùy thuộc vào tuổi cây cà phê.
Tăng cường kiểm tra để phòng trừ các tác nhân hại rễ khác:
+ Các loại nấm trong đất: Sử dụng thuốc Bavistine 50 FL nồng độ 0,2% (tưới trực tiếp vào gốc với 5 lít/gốc), Validacin 3L nồng độ 0,5% tưới gốc (40 ml/8lít), 3.000-5.000 lít nước/ha hoặc Score 250 EC (1lít/ha), Vivil 5 SC (1,5lít/ha).
+ Tuyến trùng: Sử dụng nấm đối kháng Paecilomyces (Palila 500 WP) liều lượng theo khuyến cáo, hoạt chất Cytokinin (Sincosin + Agrispon) 0,2%; Etobon 0,56 SL, tưới gốc nồng độ: 0,125 ml/lít nước; 3.000-5.000 lít nước/ha, Vimoca 10G rải quanh gốc (30g/gốc tưới đẫm nước).
Ngoài ra, cần kiểm tra tình hình sâu bệnh thường xuyên để phòng trừ kịp thời đối với các loại bệnh khô cành khô trái, rỉ sắt, nấm hồng… bằng các biện pháp tổng hợp theo qui trình phòng trừ tổng hợp đã hướng dẫn.